CẦN SỬA ĐỔI NHẬN THỨC
VÀ NỘI DUNG MỘT SỐ VĂN BẢN VỀ TAI NẠN LAO ĐỘNG.
Tai nạn lao động (TNLĐ) là một hiện tượng có mối liên quan đến qúa trình lao động sản xuất, trong đó cơ bản là mối liên quan giữa người lao động với thiết bị, máy, công cụ sản xuất, các yếu tố và điều kiện môi trường xung quanh; đồng thời cũng là những nguyên nhân (chủ quan hoặc khách quan) dẫn đến tai nạn. Xét về bản chất đó là sự phá hoại về thể chất lẫn tinh thần của người lao động do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm, có hại từ bên ngoài (những yếu tố đó có thể vô hình hoặc hữu hình, thường xuyên hoặc không thường xuyên) nó xuất hiện trong qúa trình lao động và hậu qủa đó là tai nạn lao động.
Hiện nay vẫn còn một số nhận thức cho rằng tai nạn lao động cũng như các loại tai nạn khác xảy ra trong qúa trình hoạt động của con người có tính ngẫu nhiên, cho đó là sự rủi ro, xấu số của người bị nạn; còn một số khác cho rằng các loại tai nạn như thiên tai, hỏa hoạn… là loại tai nạn khách quan khó tránh. Chúng tôi cho rằng những nhận thức và quan điểm này hơi cổ hủ, vừa duy tâm vừa mơ hồ .
Trong thời kỳ hiện đại hoá – công nghiệp hoá hiện nay, con người có thể ứng dụng những thành tựu tiến tiến về khoa học kỹ thuật vào việc phòng tránh tai nạn, thiên tai, hỏa hoạn…. mà cụ thể như: Áp dụng hệ thống, thiết bị tiến tiến và các giải pháp khoa học vào việc chống Sét; áp dụng các loại thiết bị, phương tiện hiện đại, giải pháp khoa học và các biện pháp phòng ngừa khác trong việc phòng cháy, chữa cháy và phòng chống lũ, bão…; nhất là trong lao động sản xuất, thì đa dạng và phong phú về thiết bị, phương tiện và giải pháp phòng ngừa. Phải nói rằng hiện nay con người đã có thể ứng dụng những tiến bộ KHKT và thực hiện các giải pháp tiên tiến trong việc phòng ngừa, khống chế các sự cố tai nạn, thiên tai, hỏa hoạn…một cách có hiệu qủa.
Pháp luật Lao động Việt Nam ra đời (năm 1994) nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong suốt qúa trình sản xuất; mà trước hết đảm bảo tính thực thi quyền và lợi ích của người lao động về BHLĐ…, trong đó vấn đề TNLĐ đã được các nhà khoa học kỹ thuật, các nhà làm Luật và các nhà chuyên môn khác nghiên cứu thống nhất quan điểm này, được Nhà nước công nhận và ban hành thành văn bản pháp luật: “Tai nạn lao động (TNLĐ) là những tai nạn xảy ra do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong qúa trình lao động sản xuất và công tác, gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết theo quy định của Bộ luật Lao động như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị, kết thúc công việc tại nơi làm việc)”.
Trong thực tế nhiều vụ TNLĐ xảy ra, khi giải quyết chế độ thì phần thiệt thòi thuộc về người lao động. Nếu không xem xét cụ thể từng trường hợp, vừa có tình vừa có lý và đúng pháp luật thì dễ dẫn đến việc tranh cải, khiếu nại, thậm chí có thể kiện cáo ra tòa… chúng tôi xin dẫn chứng một số vụ tai nạn lao động sau:
-Một tổ công nhân đang làm việc sơn sửa cầu và một tổ công nhân khác đang làm nhiệm vụ nạo, vét kênh mương gần đó bằng máy đào, xúc... Đang thực hiện nhiệm vụ đến gần cuối buổi (Sau khi nghe tiếng Ầm…), thì bất ngờ lũ tràn về cuốn trôi tất cả người và thiết bị, máy móc. Lũ đã gây thiệt hại cho người (làm 2 người chết, 4 người bị thương và 1 số thiết bị, máy móc bị hư hại).
-Một tổ công nhân chăm sóc vườn Thanh long đang làm việc tại hiện trường, đến giữa buổi thì trời bắt đầu mưa; chuẩn bị xếp dụng cụ, thiết bị để về lán trại nghỉ, thì bất ngờ sét đánh làm một (01) người chết và 01người bị thương nặng (do bỏng nặng).
+ Một nhân viên kỹ thuật, được người sử dụng lao động phân công xuống UBND xã…(H)... ký xác nhận hồ sơ bản đồ. Đang trên đường đi thì bị sét đánh chết.
-Một nhân viên kiểm lâm nhận được lệnh khẩn cấp của lãnh đạo, với nhiệm vụ đến điểm A (bắt gỗ lậu). Trong lúc rượt đuổi lâm tặc, không may bị trượt ngã xuống bờ mương, mặc dù trên thân thể chỉ có một vài vết thương trầy xước nhẹ, nhưng toàn thân bị liệt.
-Một công nhân cao su đang làm vệ sinh lô, đến giữa buổi thì bất ngờ bị rắn (độc) cắn. Nạn nhân được đơn vị đưa đến bệnh viện cấp cứu; do việc sơ cứu ban đầu chưa kịp thời, nên khoảng 3 ngày sau thì nạn nhân chết.
Tất cả các trường hợp tai nạn trên đây đều xảy ra trong quá trình lao động, công tác gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ do lãnh đạo đơn vị phân công; nó xảy ra bất ngờ, do thiên tai và hoàn toàn người lao động không có lỗi.
Nếu áp dụng theo luật Lao động (khoản 3 điều 107 của Bộ luật Lao động và Nghị Định 110/2002/NĐ-CP quy định rõ: “TNLĐ xảy ra mà không do lỗi của người lao động thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm bồi thường cho người lao động ít nhất bằng 30 tháng (nếu chết)…., nếu do lỗi trực tiếp của người lao động thì cũng được trợ cấp ít nhất bằng 12 tháng…” rõ ràng các trường hợp tai nạn này có thể được hưởng chế độ bồi thường TNLĐ: ít nhất bằng 30 tháng tiền lương (nếu chết) hoặc được hưởng bồi thường theo tỉ lệ thương tật (nếu bị thương).
Điều đáng suy nghỉ: Khi thực hiện Thông tư số 10/2003/TT-BLĐTBXH ngày 18/4/2003 của Bộ Lao động TBXH, hướng dẫn việc thực hiện chế độ bồi thường và trợ cấp đối với người bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, (xin trích điểm 2, mục II của Thông tư này như sau: “ Tai nạn được coi là tai nạn lao động là tai nạn xảy ra đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở hoặc tai nạn do những nguyên nhân khách quan như thiên tai, hoả hoạn và các trường hợp rủi ro khác gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao động hoặc không xác định được người gây ra tai nạn xảy ra tại nơi làm việc”.)
Rõ ràng các vụ tai nạn chết người nêu trên nếu áp dụng theo thông tư này thì người bị tai nạn LĐ và thân nhân của người của họ chỉ được hưởng mức trợ cấp: ít nhất bằng 12 tháng tiền lương (vì do nguyên nhân khách quan, mặc dù tai nạn lao động không do lỗi của người lao động); và cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận tai nạn xảy ra do lỗi của người lao động (theo luật LĐ: nếu TNLĐ xảy ra do lỗi trực tiếp của người LĐ thì được hưởng 12 tháng…) . Chưa kể một trong những người này nếu đang nghỉ giải lao, đi vệ sinh, ăn giữa ca hoặc bồi dưỡng bằng hiện vật mà bị chết trong những trường hợp này….thì người lao động và thân nhân của họ đành trắng tay, vì bị tai nạn trong lúc không gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao động hoặc không xác định được người gây ra tai nạn.
Theo tôi, một phần nội dung văn bản này còn thiếu tính nhân đạo, chưa đúng với quy định của pháp luật Lao động Việt
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Nếu để xảy ra tai nạn lao động là thiệt hại chung cho bản thân gia đình, cho Đảng, cho Chính phủ và cho nhân dân…. Vì thế chúng ta phải hết sức bảo vệ an toàn lao động, bảo vệ tính mạng người công nhân”. Năm 1959 khi thực hiện Chỉ thị 132/CT của Ban Bí thư, chúng ta đã có khẩu hiệu “An toàn để sản xuất, sản xuất phải an toàn” mà ngày nay chúng ta vẫn còn áp dụng. Như vậy AT-VSLĐ là phạm trù của sản xuất, nó gắn bó khách quan và tất yếu do sự phát triển của sản xuất, nhằm bảo vệ yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất đó là người lao động. Rõ ràng ở đâu có sản xuất, công tác, có con người làm việc thì ở đó phải tiến hành công tác BHLĐ và thực hiện các biện pháp an toàn cho người lao động.
Không có ý kiến gì thêm, xin nhường lại để mọi người chúng ta cùng bình luận, phân tích và nhận xét tiếp, hầu giúp cho người lao động ngày, càng có một cuộc sống tốt hơn, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Trước mắt đề nghị các Bộ, ngành chức năng:
-Cần cải tiến nội dung tuyên truyền huấn luyện về công tác bảo hộ lao động, từng bước thay đổi nhận thức về tai nạn lao động.
-Rà soát lại các văn bản hướng dẫn thực hiện luật Lao động, nếu văn bản nào chưa phù hợp thì cần sửa đổi, bổ sung kịp thời, nhằm để bảo vệ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động.
==